Sự trả thù ngọt ngào của Bắc Kỳ và tổ tiên của người Bắc Kỳ

Người miền Nam có ‘nói ngọng’ không?
Thảm trạng của Nam Kỳ – Bắc Kỳ ban phát
Chúng ta không nên kỳ thị vùng miền!

Chứng kiến sự đồng hoá khốc liệt của bake đối với người Nam Kỳ, tôi có liên tưởng đến hành động tương tự mà ông tổ của bake đang áp dụng với người Mãn Châu. Người Mãn hiện còn gần 11 triệu người và không ngừng phát triển nòi giống thế nhưng tiếng Mãn chỉ còn được khoảng 70 người nói như tiếng mẹ đẻ, gần như toàn bộ người Mãn sắp được người Bắc Kinh, Thiểm Tây, Cam Túc nhận làm con cháu…
Nhà Nguyễn và nhà Thanh là hai triều đại cuối cùng của Việt Nam và Trung Quốc, là đại diện cho người Đàng Trong ở Việt Nam và người Mãn Châu ở Trung Quốc.

Cả hai có các đặc điểm chung như sau:

  • Đều là thế lực mới phát triển sau này nổi lên sáp nhập vùng đất được cho là có văn hoá lâu đời hơn vào vương quốc của họ.
  • Đều bị người dân ở những vùng được cho là có văn hoá lâu đời hơn phản đối bằng nhiều cách khác nhau. Ở Trung Quốc có “phản Thanh phục Minh” thì ở Việt Nam người bake “phản Nguyễn phục Lê”.
  • Dưới những triều đại này, nhờ vào tiềm lực quân sự hùng mạnh mà nước sở tại có diện tích lớn nhứt mà sau này những phe chống “phong kiến” đều muốn tận hưởng thành quả do nhà Nguyễn và nhà Thanh để lại.
  • Đều bị sách vở đổ tội là “phong kiến thối nát” bất chấp các triều đại bị sụp đổ trước đó “tốt” cỡ nào.
  • Đều bị phương Tây xâm chiếm dẫn đến mất độc lập.
  • Xứng đáng có được vùng đất riêng để tự trị nhưng bị thế lực “chống phong kiến” phản đối. Số phận hẩm hiu của Mãn Châu Quốc, Cộng Hoà Tự Trị Nam Kỳ và Quốc Gia Việt Nam.
  • Phe bảo hoàng thất thế ở cả hai nước, nội chiến Quốc – Cộng được chủ xướng bởi những người khác ý thức hệ nhưng đều không thích vua (Tưởng – Mao, Hồ – Diệm).
  • Phe cộng sản đều chiến thắng và đều đàn áp tôn giáo, sắc tộc.
  • Cả hai nước đều có “thuyền nhân”, tuy nhiên thuyền nhân Trung Quốc xuất hiện khi Thanh thắng Minh (và họ đã đến Đàng Trong) còn thuyền nhân Việt Nam xuất hiện khi Bắc Kỳ xoá sổ thực thể kinh tế chính trị quân sự độc lập cuối cùng của Đàng Trong.

Những điểm khác biệt:

  • Nhà Thanh đồng hoá Trung Quốc về trang phục chứ không thể đồng hoá được  về văn hoá và ngôn ngữ, văn hoá Mãn Châu không đủ mạnh để lấn át văn hoá Truong Quốc, thậm chí bị đồng hoá ngược về tiếng nói. Thay đổi lớn nhứt là trang phục (đuôi sam, áo quần) cho nên thời nhà Thanh khi chúa Nguyễn hay Hàn Quốc sang Trung Quốc đi sứ thì dân chúng thấy trang phục bèn luyến tiếc nhà Minh.
  • Nhà Nguyễn không đồng hoá Đại Việt về văn hoá cũng như ngôn ngữ, vua Minh Mạng ra chiếu bắt đàn bà mặc quần thay cho váy đụp bị phản đối kịch liệt. Dân chúng Bắc Kỳ đứng lên phản đối nhà Nguyễn kịch liệt điển hình là Nông Văn Vân, Phan Bá Vành, Cao Bá Quát, Tạ Văn Phụng.
  • Thời gian Bắc Kỳ phản Nguyễn dài hơn, kéo dài từ 1798 tới 1954, còn người Hán chỉ phản Thanh tới đời Gia Khánh sau đó chấm dứt và chỉ bùng phát trở lại bắt đầu từ Thái Bình Thiên Quốc cho tới cách mạng Tân Hợi thành công.
  • Mãn Châu thuần chủng đơn độc đối chọi với các sắc tộc khác cùng chia sẻ văn hoá Trung Hoa.
    Nhà Nguyễn đa sắc tộc đối chọi với Bắc Kỳ thuần chủng.
Người Bắc sẵn sàng ví người Nam như người da đen để phục vụ cho mục đích tuyên truyền của mình.

Người Bắc sẵn sàng ví người Nam như người da đen để phục vụ cho mục đích tuyên truyền của mình.

Sự đoàn kết của Bắc Kỳ và Bắc Kinh cùng màn nhúng tay vụng về vào bán đảo Đông Dương của Mỹ đã mang đến thành quả ngọt ngào khi Hà Nội có được miền Nam màu mỡ để giải quyết vấn đề đụ đẻ cố hữu của chủng tộc mình. Trong khi Trung Quốc dễ dàng đưa tiếng Mãn Châu đi vào quên lãng sau hơn nửa thế kỷ thống nhứt giang san, từ 1949 tới nay đã 79 năm. Tự hỏi rằng sau 36 năm nữa, với sự xâm lăng của Bắc Kỳ, tiếng Nam sẽ còn được bao nhiêu người nói?
Tất cả những gì bake làm từ 1954 tới nay đều do ông tổ bên quê của Thần Nông, Đế Lai, Đế Nghi gì đó “tư vấn”, ông tổ của tụi nó đã và đang thành công, tương lai của miền Nam ngày sau sẽ ra sau nếu người Nam còn thờ ơ?

COMMENTS

WORDPRESS: 0